Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

CHIỀU CHI LĂNG


Tôi đến ngõ Thề(1) thuở ấy
Trăng mờ trên núi Cai Kinh(2)
Thung lũng đầm sâu, đêm mênh mang quá
Con tàu gióng lên hồi còi giục giã
Ngỡ hiệu còi cả phá của Chi Lăng
Mã Yên Sơn(3) lặng lẽ ngủ yên nằm
Thái Hòa(4) vọng muôn đời văng ngựa hí
Giọt sương nấp ở trên sườn núi Qủy(4)
Mắt đèn ga: xương phơi nắng thung này

Ngõ thề khép vòng vây
Ơi Lê Hoàn thuở ấy
Tiếng gươm đao còn vang dậy đất này
Trái đạo trời, giặc Tống đã tan thây
Hầu Nhân Bảo(6) run rẩy ngày tận thế.

Trần Hưng Đạo binh thư ngẫm nghĩ
“Dùng đoản binh áp chế trận trường”
Ôi Chi Lăng kiên cường
Nơi ấy giặc phơi xương và tận số
Ba lần đến, quân Nguyên, Mông máu đổ
Hỡi Bắc triều, ta tính sổ cùng ngươi!

Hai thế kỷ trôi qua, bay lại liều lĩnh tới
Mã Yên Sơn, hấp hối Liễu Thăng(7) nằm
Trước khi chết đi trong nỗi nhục nhằn
Ngươi có hận Minh triều không An Viễn(8)?
Sông Thương uốn mềm thung lũng
Nước trào, lũ cuốn hôi tanh
Mùa thu cây xanh, núi xanh, trời xanh
Và mây trắng kéo về nghiêng nghiêng bóng

Chiều Chi Lăng
                   Tàu nhả khói vào ga
Sắc áo lính lẫn vào cây vào lá
Những chàng trai từ Đông Đô, Phú Xuân, Sài Gòn hối hả
Ngược xuôi miền đất biên thùy
Lúa xanh lũng quanh Mã Yên, Hàm Qủy
Cầu nhỏ chênh vênh
Dòng Thương lặng lẽ
Em bước trên cầu
Chiều đi rất nhẹ
Gương mặt ngời trong bóng nước Chi Lăng.
Lạng Sơn - thu đông 1980
Chú thích:
(1) Ngõ thề: Cửa phía Nam, hẹp, độc đạo của vùng Chi Lăng
(2) ,(3),(4),(5): Dãy núi đá phía tây Cai Kinh, dãy núi đất lớn phía đông Thái Hòa và các núi nhỏ trong thung lũng Chi Lăng
     (6): Tướng nhà Tống tử trận ở Chi Lăng
     (7),(8): Tướng nhà Minh trước khi sang xâm lược Việt Nam được phong An Viễn hầu, bại trận ở Chi Lăng, chui vào ống đồng mà chạy.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét